1. Nâng tầm nhận thức về vị trí, vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Nghị quyết xác định NVNONN là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Đây là bước phát triển mới trong nhận thức khi cộng đồng NVNONN được nhìn nhận là một cấu phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sức mạnh của Việt Nam giờ đây không chỉ được đo bằng những nguồn lực hiện hữu trong lãnh thổ quốc gia mà còn bao gồm nguồn lực trí tuệ, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và quan hệ quốc tế của đồng bào trên khắp thế giới. Với vị thế đó, NVNONN vừa là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, vừa là lực lượng đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
2. Đổi mới mạnh mẽ tư duy công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Nghị quyết khẳng định công tác NVNONN có vai trò quan trọng trong triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Nghị quyết 23 đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy về công tác NVNONN, nâng tầm tư duy từ “vận động, tập hợp, chăm lo” lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế để NVNONN tham gia sâu hơn trong hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước.
Theo đó, Nhà nước tiếp tục đồng hành cùng đồng bào Việt Nam ở nước ngoài trong việc ổn định cuộc sống, hội nhập và phát triển tại nước sở tại; đồng thời chủ động hoàn thiện thể chế, chính sách đồng bộ, đột phá, và tạo môi trường thuận lợi nhất để đồng bào tham gia ngày càng sâu rộng vào dòng chảy phát triển của đất nước thông qua các hoạt động đầu tư, kinh doanh, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, văn hóa và đối ngoại nhân dân.
Bên cạnh đó, Nghị quyết khẳng định Đảng, Nhà nước luôn trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn việc trục lợi, gây chia rẽ trong cộng đồng, phá hoại quan hệ đối ngoại của Việt Nam, ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích quốc gia – dân tộc. Đây là điểm quan trọng thể hiện tư duy mới trong công tác hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc.
3. Nhấn mạnh nhiệm vụ phát huy hiệu quả nguồn lực của NVNONN phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Về mục tiêu: Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy các nguồn lực chiến lược của NVNONN phục vụ phát triển đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh thái khởi nghiệp.
Về phương thức huy động nguồn lực: Thay vì chủ yếu vận động, thu hút các cá nhân riêng lẻ như trước đây, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái toàn cầu để kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ NVNONN. Việc đóng góp của kiều bào cũng được mở rộng và linh hoạt hơn, có thể trực tiếp về nước làm việc hoặc đóng góp từ xa dưới nhiều hình thức phù hợp, hiệu quả.
Về mức độ tham gia của kiều bào: Nghị quyết chuyển từ định hướng khuyến khích đồng bào đóng góp xây dựng quê hương, đất nước sang tạo điều kiện để NVNONN tham gia sâu rộng hơn vào quá trình phát triển đất nước thông qua góp ý xây dựng chủ trương, chính sách, tham gia các chương trình phát triển quốc gia, các tổ chức chính trị - xã hội phù hợp, cũng như các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
4. Đề cao vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Khẳng định kiều bào là lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các hoạt động lợi dụng NVNONN để chống phá đất nước. Khuyến khích, hỗ trợ người Việt Nam có năng lực tham gia các tổ chức quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.
Nhấn mạnh việc phát huy vai trò của NVNONN là "đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam", góp phần nâng cao vị thế, uy tín của cộng đồng tại nước sở tại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế. Đây là bước phát triển mới trong tư duy khi chuyển từ mục tiêu chủ yếu gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc sang phát huy văn hóa như một nguồn lực và công cụ của sức mạnh mềm quốc gia.
Quan tâm đặc biệt, hỗ trợ thế hệ trẻ NVNONN hiểu biết sâu sắc và gắn bó bền vững với quê hương, đất nước thông qua công tác giáo dục, các hoạt động trải nghiệm, về nguồn, học tập, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tình nguyện và giao lưu Nhân dân, đúng như tinh thần chỉ đạo của TBT, CTN Tô Lâm.
5. Yêu cầu tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, lĩnh vực, địa bàn. Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên trong công tác NVNONN.
Khẳng định cơ quan làm công tác NVNONN cần có đủ thẩm quyền, vị thế để chủ trì, điều phối toàn diện, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác trong tình hình mới. Nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác NVNONN; bố trí cán bộ, bộ phận chuyên trách làm công tác cộng đồng tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, nhất là tại các địa bàn có đông người Việt Nam.
Yêu cầu các cơ quan, địa phương lồng ghép nội dung công tác NVNONN này vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, địa bàn; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện.
6. Một số điểm mới khác
- Khẳng định công tác NVNONN có vai trò quan trọng trong triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, nhất là trong các tình huống khẩn cấp. Thúc đẩy hợp tác quốc tế , tăng cường phối hợp với chính quyền nước sở tại bảo đảm an ninh, an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng, công nhận cộng đồng người Việt Nam là dân tộc thiểu số hoặc bộ phận cấu thành hợp pháp, lâu dài của nước sở tại. Khuyến khích cộng đồng tổ chức các hoạt động tưởng nhớ, tri ân nguồn cội.
- Định kỳ tổ chức các diễn đàn, cơ chế đối thoại để tiếp nhận, phản hồi và phát huy các sáng kiến, đề xuất của người Việt Nam tại địa bàn. Tích cực kết nối cộng đồng người Việt Nam với nhu cầu phát triển của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học trong nước, qua đó chuyển hóa tiềm năng thành các chương trình hợp tác, dự án đầu tư, hoạt động chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Tăng cường hỗ trợ hội đoàn thông qua phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt, nhất là thế hệ trẻ; quan tâm hỗ trợ kinh phí trong hoạt động hướng về quê hương, đất nước và cho các trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.




