THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ HỘI NGƯỜI VIỆT TẠI 4 TỈNH NAM LÀO
Cộng đồng người Việt Nam tại Nam Lào có khoảng 15.000 người, được hình thành qua nhiều thế hệ, đến nay đã là thế hệ thứ 4 và thứ 5, trong đó có khoảng 6000 người đã có quốc tịch Lào, sổ hộ khẩu Lào. Thành phần cộng đồng đa dạng, gồm các thế hệ sinh ra, lớn lên tại Lào (chủ yếu tại tỉnh Champasak và tỉnh Salavan); những người sang sinh sống, làm ăn, buôn bán lâu năm (chủ yếu ở tỉnh Sekong và Attapeu). Ngoài ra, có người làm công nhân làm việc cho các doanh nghiệp của Việt Nam sang đầu tư tại Nam Lào, một số lượng đáng kể lao động thời vụ sang làm các nghề như xây dựng, sửa chữa ô tô, xe máy, rửa xe..
Hoạt động chính của các Hội: các Hội người Việt phát huy được vai trò nòng cốt trong việc chăm lo đời sống của cộng đồng người Việt, củng cố đoàn kết cộng đồng, vận động bà con hướng về quê hương, đất nước, hỗ trợ bà con làm các thủ tục cấp thẻ cư trú, gia hạn thời hạn cư trú, đăng ký kinh doanh, cấp thẻ lao động. Các Hội người Việt đã phối hợp hiệu quả với Tổng Lãnh sự quán trong triển khai công tác cộng đồng và các hoạt động đối ngoại tại địa bàn, đóng góp tích cực vun đắp mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.
Hiện nay, tại Nam Lào có 04 Hội người Việt, bao gồm:
I. BCH Hội người Việt tỉnh Champasak nhiệm kỳ 2023-2028 gồm 15 thành viên, danh sách BCH Hội người Việt tỉnh Champasak gồm:
1. Ông Đồng Công Dũng, Chủ tịch Hội và là Phó Chủ tịch không thường trực của Mặt trận Lào xây dựng đất nước tỉnh Champasak.
2. Ông Trần Đức Lộc, Phó Chủ tịch
3. Bà Hà Thị Thuận, Phó Chủ tịch
4. Ông Phan Linh Châu, Trưởng ban Xã hội
5. Ông Nguyễn Văn Hùng, Trưởng ban Thanh niên
6. Ông Vũ Đình La, Trưởng ban Văn hóa
7. Bà Mai Thị Chung, Trưởng ban Phụ nữ
8. Ông Nguyễn Văn Cảnh, Phó ban Thanh niên
9. Ông Nguyễn Văn Đức, Phó ban Thanh niên
10. Ông Pha nít Seng phan song, Tư vấn pháp lý
11. Ông Phạm Văn Hải, Tư vấn pháp lý
12. Bà Phạm Thị Thêm, Phó ban Phụ nữ
13. Bà Lê Thị Mai, Phó ban Phụ nữ
14. Ông Lê Văn Du, Phó ban xã hội
15. Bà Đào Thị Xuyến, Phó ban Phụ nữ.
Ngoài ra có 08 Chi hội trực thuộc Ban Chấp hành Hội (07 Chi hội tại Thành phố Pakse và 01 Chi hội tại huyện Paksong).
II. BCH Hội người Việt tỉnh Attapeu nhiệm kỳ 2022 – 2026, gồm 05 thành viên, danh sách BCH Hội người Việt tỉnh Attapeu gồm:
1. Ông Nguyễn Văn Bình, Chủ tịch Hội
2. Ông Đặng Hiền, Phó Chủ tịch Hội.
3. Bà Hồ Thị Phượng, Phó Chủ tịch Hội
4. Ông Trần Đức Lộc, Ủy viên
5. Ông Nguyễn Văn Tự, Thư ký.
III. BCH Hội người Việt tỉnh Salavan nhiệm kỳ 2020 -2025, gồm 07 thành viên, danh sách BCH Hội người Việt tỉnh Salavan gồm:
1. Ông Trần Văn Cu, Chủ tịch Hội
2. Ông Nguyễn Thông, Phó Chủ tịch
3. Ông Phan Lê, Phó Chủ tịch
4. Ông Văn Đình Huỳnh, Ủy viên
5. Bà Nguyễn Thị Thủy, Ủy viên
6. Bà Nguyễn Thị Bé, Ủy viên
7. Ông Phan thong say nha đệt, Ủy viên.
IV. BCH Hội người Việt tỉnh Sekong nhiệm kỳ 2026 - 2030, gồm 05 thành viên, danh sách BCH Hội người Việt tỉnh Sekong gồm:
1. Ông Trần Đình Hải, Chủ tịch Hội
2. Ông Trần Ngọc Châu, Phó Chủ tịch
3. Bà Trần Thị Tố Nữ, Phó Chủ tịch
4. Ông Nguyễn Hữu Quý, Ủy viên
5. Ông Nguyễn Văn Thoại, Ủy viên.
V. Về các trường Hữu nghị Lào-Việt: tại mỗi tỉnh Nam Lào đều có 01 Trường Hữu nghị Lào - Việt do các tỉnh Nam Lào quản lý (Hội người Việt và Sở Giáo dục và Thể thao), cụ thể:
1. Trường Hữu nghị Việt - Lào tại tỉnh Champasak thành lập năm 1976, trường do TP Đà Nẵng hỗ trợ xây dựng, có 15 phòng học, có tổng số hơn 400 em học sinh (trong đó có 240 con em người Việt) 19 giáo viên chính thức (có 7 thầy cô giáo dạy tiếng Việt).
2. Trường Hữu nghị Việt - Lào tại tỉnh Attapeu thành lập năm 2019, có tổng số 493 học sinh (trong đó có 36 con em người Việt), có 3 giáo viên dạy tiếng Việt.
3. Trường Hữu nghị Việt - Lào tại tỉnh Salavan thành lập năm 2016, có tổng số 169 học sinh (trong đó có 43 em học sinh con em người Việt), trường có 5 phòng học, có 3 giáo viên dạy tiếng Việt. Trường mới được thành phố Đà Nẵng xây tặng và bàn giao vào tháng 4/2026.
4. Trường Hữu nghị Việt - Lào tại tỉnh Sekong, thành lập năm 2019, có 15 phòng học, trường do tỉnh Quảng Ngãi, TP Huế xây dựng, có 15 phòng học, là trường duy nhất có học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 với tổng số 752 học sinh (trong đó có 56 học sinh con em người Việt), có 3 thầy cô giáo dạy tiếng Việt.
Các trường tổ chức nhiều hoạt động nhằm góp phần gìn giữ tiếng Việt cho học sinh là con em người Việt, đồng thời là biểu tượng của tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào.
5. Tại mỗi tỉnh Nam Lào có 01 Trung tâm tiếng Việt do thành phố Đà Nẵng tài trợ xây dựng và cử giáo viên sang giảng dạy. Các trung tâm tổ chức dạy và học tiếng Việt cho học sinh, sinh viên và cán bộ người Lào nhằm nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh, sinh viên, đội ngũ cán bộ Lào, qua đó phục vụ hiệu quả công tác phối hợp, trao đổi và triển khai các chương trình hợp tác giữa các địa phương Nam Lào với Việt Nam.



