Thông tin cơ bản về Việt Nam
Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp Biển Đông. Lãnh thổ Việt Nam bao gồm đất liền, nội thủy, lãnh hải, vùng biển, các đảo, quần đảo và vùng trời thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia theo quy định của Hiến pháp, Luật Biển Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S kéo dài khoảng 1.650 km theo hướng Bắc - Nam, phần rộng nhất trên đất liền khoảng 500 km, nơi hẹp nhất gần 50 km. Bản đồ hành chính Việt Nam thể hiện lãnh thổ trong phạm vi kinh tuyến từ 102o đến 118o độ kinh Đông, vĩ tuyến từ 04o30’ đến 23o30’ độ vĩ Bắc. Phạm vi thể hiện trên bản đồ hành chính hoặc bản đồ địa hình quốc gia không phải là giới hạn pháp lý của chủ quyền quốc gia trên biển. Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển được xác định theo Hiến pháp, Luật Biển Việt Nam, các tuyên bố về đường cơ sở của Chính phủ và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy, Tuyên ngôn độc lập (https://chinhphu.vn/quoc-ky-quoc-huy-quoc-ca-tuyen-ngon-68378).
Diện tích: 331.211,6 km²
Dân số: Năm 2025, quy mô dân số là 102,3 triệu người, đứng thứ 3 Đông Nam Á và đứng thứ 16 thế giới. (nguồn: Báo Chính phủ).
Dân tộc: Việt Nam có 54 dân tộc anh em.
Ngôn ngữ: Việt Nam có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á, ngữ hệ Nam đảo, và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau.
Văn hóa: Việt Nam có một nền văn hoá đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc. (Xem thêm: https://chinhphu.vn/van-hoa-68391)
Thủ đô: Hà Nội
Đơn vị hành chính: Việt Nam có 34 tỉnh và thành phố (kể từ ngày 01/7/2025).
Bản đồ hành chính: https://vnsdi.mae.gov.vn/bandonen/
Khí hậu: Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa.
Tài nguyên: Việt Nam có hệ thống tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, bao gồm tài nguyên đất, nước, rừng, biển, khoáng sản và năng lượng tái tạo.
Địa lý: Địa hình Việt Nam đa dạng và phức tạp, bao gồm các kiểu địa hình đồi núi, cao nguyên, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa. Địa hình hiện nay là kết quả của quá trình phát triển địa chất, kiến tạo và địa mạo lâu dài, dưới tác động mạnh mẽ của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và các quá trình phong hóa, xâm thực, bồi tụ. Địa hình Việt Nam có xu hướng thấp dần từ các vùng núi cao ở phía Tây Bắc và phía Tây ra các đồng bằng, vùng ven biển và thềm lục địa ở phía Đông và Đông Nam. Xu thế phân hóa này được thể hiện qua sự phân bố độ cao địa hình, cấu trúc các dãy núi, cao nguyên và đặc điểm của các hệ thống sông lớn. Địa hình Việt Nam chủ yếu là địa hình đồi núi, chiếm khoảng 3/4 diện tích phần đất liền, nhưng phần lớn là đồi và núi thấp. Địa hình có độ cao dưới 1.000 m chiếm khoảng 85% diện tích phần đất liền, phản ánh đặc trưng địa hình nhiệt đới ẩm gió mùa đã trải qua quá trình bóc mòn và san bằng lâu dài. Địa hình núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm khoảng 1% diện tích phần đất liền, tập trung chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc và một số khối núi cao thuộc dãy Trường Sơn.
Địa hình đồi núi Việt Nam có cấu trúc phức tạp, với hướng chủ đạo là Tây Bắc - Đông Nam, xen kẽ với các hệ thống cánh cung ở vùng Đông Bắc. Các vùng núi cao và đồ sộ nhất phân bố ở phía Tây và Tây Bắc, trong đó đỉnh Phan-xi-phăng (3.143 m) là đỉnh cao nhất của bán đảo Đông Dương. Nhìn chung, địa hình có xu thế thấp dần từ các vùng núi và cao nguyên phía Tây ra các đồng bằng và vùng biển phía Đông và Đông Nam. Từ khu vực đèo Hải Vân trở vào Nam, địa hình mang đặc trưng của các khối núi và cao nguyên rộng lớn phát triển trên nền đá magma và biến chất, xen kẽ với hệ thống các cao nguyên bazan liên tiếp hợp thành vùng Tây Nguyên; phía Đông là hệ thống núi Trường Sơn Nam và các đồng bằng ven biển hẹp.
Đồng bằng chiếm khoảng một phần tư (1/4) diện tích phần đất liền Việt Nam và được phân chia thành nhiều khu vực bởi hệ thống đồi núi. Hai đồng bằng lớn nhất là đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam. Nằm giữa hai đồng bằng lớn là hệ thống các đồng bằng ven biển miền Trung, phát triển dọc theo bờ Tây Biển Đông. Việt Nam có vùng biển rộng lớn ở phía Đông, phía Nam và phía Tây Nam, với đường bờ biển dài khoảng 3.260 km, kéo dài từ khu vực Đông Bắc đến khu vực Tây Nam của lãnh thổ.
Các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông và Vịnh Thái Lan bao gồm hệ thống đảo, quần đảo và thềm lục địa rộng lớn. Khu vực Vịnh Bắc Bộ tập trung nhiều đảo và đá lớn nhỏ, chủ yếu phân bố trong khu vực Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, quần đảo Cát Bà và đảo Bạch Long Vĩ. Trên Biển Đông có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ở phía Nam và Tây Nam có các quần đảo Côn Đảo, Phú Quốc và Thổ Chu.
